Nghiên cứu về ngành Sinh trắc dấu vân tay đã có tuổi đời hơn
200 năm. Kết quả nghiên cứu này đã được áp dụng trong ngành
nhân học, di truyền học, y học và thông kê giúp giải mã khả
năng tiềm ẩn của con người.![]() Sự phát triển của não và và những đường vân nổi trên da phát triển đồng thời trong thời kỳ này. Vì vậy có một sự liên quan trực tiếp giữa sự phát triển não bộ và dấu vân tay. Những quốc gia như Nga, Trung Quốc, và Đài Loa, Malaysia, Singapore đã áp dụng kỹ thuật này trong các lĩnh vực như: thể thao, đào tạo, quản trị nguồn nhân lực, tuyển dụng, giải trí và ngay cả định hướng thiên tài. |
| I-Talents ứng dụng kỹ thuật mới nhất của Sinh trắc
dấu vân tay với độ chính xác lên đến hơn 95% để giải mã khả
năng và tài năng tiềm ẩn của một người. Không may, hầu hết chúng ta có rất ít thông tin cũng như cảm nhận không rõ ràng về tài năng và điểm mạnh của chính bản thân mình. Thay vào đó, chúng ta đươc định hướng bởi cha mẹ, thầy cô, các nhà quản lý, các phương tiện truyền thông, đồng nghiệp, bạn bè. Từ đó chúng ta lại vô tình khai thác điểm yếu của mình và sống cuộc sống bình thường mà lãng quên đi điểm mạnh và tài năng của mình. Việc này cứ tiếp tục lập lại từ thế này này qua thế hệ khác khiến chúng ta tự hạn chế năng lực của bản thân, thay vì ngày càng trau dồi và vươn xa những năng lực của bản thân.
ẨN SỐ CỦA NÃO BỘ NẰM TẠI CÁC ĐƯỜNG VÂN TRÊN NGÓN TAY
![]()
Tiến sĩ Harold Cummins
Năm 1926 Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lí luận chỉ số cường độ vân
tay PI, giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí
hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm
năng và trí tuệ của con người.Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não. ![]()
Giáo sư Roger W.Sperry
Năm 1981, giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh
giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu
về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết
toàn não. Từ đây những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát
triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử
dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẢI MÃ CÁC TIỀM NĂNG ẨN CHỨA BÊN TRONG NÃO BỘ CHÚNG TA?
CẤU TRÚC NÃO BỘ![]()
![]() I-TALENTS, ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG TRONG BẠN! |
Friday, May 10, 2013
Mối Quan Hệ Giữa Dấu Vân Tay Và Não Bộ
Lịch sử Nghiên Cứu Dermatoglyphics
Năm 1823: Joannes Evangelista Purkinji tìm thấy các mô hình và hình dạng của ngón tay.
Năm 1880, Henry Faulds và W.J Herschel, trong một công trình công bố tên là “Nature”, đã đề xuất sử dụng vân tay như là phương thức độc đáo để xác định bản chất của con người.

Cuối thế kỉ 19 năm 1880, Tiến sĩ
Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count)
có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào
gen di truyền của con người được thừa kế trong đó có liên quan đến
tiềm năng và trí tuệ của con người.

Năm 1892, ông Francis Galton đã chỉ ra
rằng: vân tay của những cặp song sinh, anh em và di truyền cùng
dòng máu thì có sự tương đồng. Chính điều này đã mở ra ngành
nhân học.
Năm 1902, Harris Hawthorne Wilder đã
thiết lập hệ thống cơ bản của môn hình thái học, di truyền
học, và nghiên cứu trên chủng loại lòng bàn tay và vân tay.
Năm 1926, Harold Cummins đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt.
Năm 1926, Harold Cummins đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt.

Tiến sĩ Harold Cummins
Năm 1930, Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.
Năm 1958, Noel Jaquin đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách.
Năm 1981, giáo sư Roger W.Sperry và
đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh
học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não
phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây những nghiên cứu về
não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được
nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều
lĩnh vực khác nhau.
Năm 1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou - Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.
Năm 1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou - Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.
Năm 1994, giáo sư Lin Jui Pin đã mang
khoa học Sinh trắc học dấu vân tay vào Đài Loan. Sau đó, nó đã
được ứng dụng vào việc học tập và nghiên cứu và tạo ra tiếng
vang rất lớn tại Đài Loan vào lúc bấy giờ. Công trình nghiên
cứu của ông được Mỹ chứng nhận và cấp bằng sáng chế.


Năm 2004: Cty Well Gene Sciences đã bắt đầu sử dụng kỹ thuật cao để lấy Dấu vân tay. Với một cơ sở dữ liệu khổng lồ lên đến hàng triệu cùng với kỹ thuật phân tích thống kê, công ty này đã đưa ứng dụng sinh trắc vân tay lên một tầm cao mới.
Cùng thời điểm này, tại châu Á,
mức độ quan tâm đặc biệt về khả năng nghiên cứu và ứng dụng
của ngành sinh trắc vân tay đã lan nhanh mạnh mẽ. Trung tâm IBMBS
(Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản
hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay.
Năm 2011, Ông Peter Teoh – người có 22
năm trong lĩnh vực giáo dục và đam mê nghiên cứu tìm hiểu về tiềm năng
con người, cùng với giáo sư Lin đã nghiên cứu phần mềm đa ngôn ngữ cho
ngành Dermatoglyphics. Ông Peter Teoh được sự ủy nhiệm và tin tưởng
tuyệt đối từ Giáo sư Lin Jui Pin, đã đảm nhận một sứ mệnh đầy
thách thức nhưng cũng vô cùng hấp dẫn là mang kỹ thuật Sinh
trắc học dấu vân tay giúp khai phá tiềm năng con người tại các
nước châu Á và phần còn lại của thế giới.
Năm 2013, Được sự hỗ trợ trực tiếp từ
Ông Peter Teoh và Giáo sư Lin Jui Pin, I-Talents chính thức hoạt động
tại Việt Nam. Từ đây, đánh dấu sự phát triển của I-Talents ở Việt Nam và
bước ngặt phát triển xa hơn nữa ở các nước trên thế giới.
Tại Sao Phải Phân Tích Dấu Vân Tay?
- Dấu vân tay khởi tạo ở thai nhi từ vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.
- Dấu vân tay là dấu ấn riêng của mỗi người.
- Tuyệt đối không có 2 dấu vân tay trùng nhau. Xác suất hai cá nhân có dấu vân tay trùng nhau lên tới 1/64 tỷ kể cả trường hợp sinh đôi cùng trứng.
- Dấu vân tay vĩnh viễn sẽ không thay đổi trừ những tác động nghiêm trọng từ môi trường.
Sinh Trắc Học Dấu Vân Tay Là Gì?
|
|
Công nghệ Sinh trắc học (Biometric) -
là một công nghệ sử dụng những thuộc tính vật lý hoặc các mẫu hành
vi, các đặc điểm sinh học đặc trưng như dấu vân tay, mẫu mống mắt,
giọng nói, khuôn mặt, dáng đi,... để nhận diện con người.
![]()
Công nghệ sinh trắc học được áp dụng
phổ biến và lâu đời nhất là công nghệ nhận dạng vân tay. Dấu vân tay là
một đặc điểm quan trọng để phân biệt giữa người này và người khác. Sự
phát triển của công nghệ thông tin có thể giúp thu nhận và ghi nhớ
được hàng triệu ghi chép dưới dạng số hoá. Kỹ thuật này được đánh giá
sẽ là chìa khoá của một cuộc cách mạng công nghệ mới, khi những thiết
bị có khả năng nhận dạng vân tay để bảo vệ dữ liệu được ứng dụng ngày
càng nhiều.
Nguyên lý hoạt động của Công nghệ nhận dạng vân tay: Khi đặt ngón tay lên trên một thiết bị nhận dạng dấu vân tay, ngay lập tức thiết bị này sẽ quét hình ảnh ngón tay đó và đối chiếu các đặc điểm của ngón tay đó với dữ liệu đã được lưu trữ trong hệ thống. Quá trình xử lý dữ liệu sẽ được thiết bị chuyển sang các dữ liệu số và ra thông báo rằng dấu vân tay đó là hợp lệ hay không hợp lệ để cho phép hệ thống thực hiện các chức năng tiếp theo. Hệ thống sinh trắc học sẽ ghi nhận mẫu vân tay của người dùng và lưu trữ tất cả những dữ liệu đặc biệt này thành một mẫu nhận diện được số hoá toàn phần. Có hai phương pháp để lấy dấu vân tay. ![]()
![]()
![]()
Đặc điểm của dấu vân tay dù chỉ gồm có 7
loại (vòng móc đơn, vòng móc kép, vòng tập trung ở giữa, vòng cung,
vòng cung hình lều, vòng xoắn, vòng bất thường) nhưng thể hiện về chi
tiết khác nhau muôn hình muôn vẻ và không thay đổi từ khi mới sinh ra
cho đến khi về già. Khai thác tính độc nhất về cấu tạo hình dạng vân tay
của mỗi người, các nhà sinh trắc học sẽ biến nó thành chiếc chìa khoá
riêng mà chỉ bạn mới có thể sử dụng, giúp bạn tránh được nhiều phiền
toái trong cuộc sống như bị trộm cắp, lạm dụng hoặc giả mạo các loại
giấy tờ tuỳ thân, thẻ ngân hàng, hộ chiếu... đảm bảo an ninh và bảo mật.
|
Subscribe to:
Posts (Atom)







